• Đường dây nóng

    0901.22.33.66 - toasoan@toquoc.gov.vn

  • Liên hệ quảng cáo

    091.358.6788

Phương Tây: Từ chống nổi loạn đến chiến tranh hạn chế

Thế giới 28/11/2011 17:24

(Toquoc)-Chiến tranh Libya cho ra đời phiên bản mới của loại chiến tranh hạn chế...

(Toquoc)-Chiến tranh Libya cho ra đời phiên bản mới của loại chiến tranh hạn chế, trong điều kiện cắt giảm ngân sách quốc phòng tại Mỹ và Tây Âu.

Thắng lợi của các lực lượng NATO trong việc yểm trợ cho lực lượng nổi dậy Libya “giải phóng Libya” khỏi chế độ độc tài Gaddafi cho thấy một loại hình chiến tranh mới: chiến tranh hạn chế. Nó ra đời với sự tiến bộ của vũ khí chính xác, máy bay không người lái và trong điều kiện sức mạnh quân sự bị hạn chế do sự cạn kiệt tài nguyên chiến lược thời kỳ khủng hoảng toàn diện của phương Tây không cho phép tiến hành một cuộc chiến tranh quy mô lớn.

Ký ức của người dân châu Âu về chiến tranh được ghi dấu ấn bởi Chiến tranh thế giới thứ hai, bởi hình ảnh của cuộc “chiến tranh toàn diện”. Tháng 2/1952, Hội đồng Bắc Đại Tây Dương tại Liabon quyết định rằng trước năm 1954, Liên minh phải trang bị cho mình 42 sư đoàn sẵn sàng chiến đấu và 45 sư đoàn dự bị cơ động trong 30 ngày. Con số tiếp đó là 48 sư đoàn và mục tiêu tổng lực là 90 sư đoàn. Năm 1952, các hệ thống vũ khí trang bị cho quân đội châu Âu đã cách mạng hóa sức mạnh hỏa lực của họ so với hồi đầu thế kỷ XX. Tuy nhiên, những tham vọng được định ra tại Lisbon không bao giờ đạt được và từ năm 1952, châu Âu không còn gắn với hình ảnh của cuộc chiến tranh được tạo nên bởi lệnh nhập ngũ và số lượng lớn. Tháng 4/1953, Hội đồng đã giảm bớt mục tiêu xuống còn 30 sư đoàn sẵn sàng chiến đấu và 36 sư đoàn dự bị. Những mục tiêu mới đó đã được áp đặt do sự bó buộc tài chính; nhưng đó cũng là mục tiêu của việc hợp lý hóa về mặt quân sự. Từ nay các loại vũ khí hạt nhân đem lại cho Liên minh một sức mạnh hỏa lực không phụ thuộc vào quân số.

Ở Mỹ, thất bại ở Việt Nam khiến người ta phải chú trọng tới học thuyết và phát triển khái niệm chiến đấu phối hợp không quân và lục quân. Nó được áp dụng ở chiến trường trong Chiến tranh vùng Vịnh lần thứ nhất từ năm 1990-1991.

Việc chấm dứt Chiến tranh Lạnh cũng làm biến mất của mối đe dọa chiến tranh lớn hơn ở châu Âu. Quân đội các nước châu Âu của năm 2011 không còn khả năng tiến hành một cuộc chiến tranh kéo dài cường độ cao. Họ không còn đủ quân số cần thiết cho một cuộc “chiến tranh toàn diện”.

Tạp chí Pháp Chính sách đối ngoại, quý 2 năm 2011 phân tích một số loại hình chiến tranh đương đại.

Từ chiến tranh chống nổi loạn

Lý thuyết hiện nay về việc chống nổi loạn thường nhấn mạnh tới các tương quan tối ưu giữa các lực lượng và không gian. Chính quyền Obama đã gửi 100.000 lính bổ sung tới Afghanistan năm 2010-2011 có thể góp phần tăng cường an ninh hơn cho các khu vực rộng lớn hơn. Afghanistan cần xây dựng các lực lượng an ninh với quân số cao gấp ba lần tầm cỡ quân đội Anh. Vì vậy, chiến tranh Afghanistan đòi hỏi một đội quân khổng lồ. Năm 2010, những người lính Đức trẻ tuổi phục vụ ở Afghanistan đã tổ chức một cuộc tranh luận với việc miêu tả hành động của họ như là một cuộc chiến tranh hơn là “một cuộc xung đột vũ trang không có tính quốc tế”, bác bỏ thói quen gắn từ “chiến tranh” với thế hệ 1939-1945.

Quân đội tồn tại chủ yếu trong một mục tiêu tự vệ dân tộc, vì hiện nay người ta không còn gọi là “chiến tranh toàn diện” nữa mà gọi là “chiến tranh to lớn” hoặc dần dần gọi là “chiến tranh sinh tồn”. Hệ quả của một cuộc chiến tranh vì sự sinh tồn dân tộc khiến cho quân đội ở đây trở nên quan trọng. Các đội quân hạn chế được coi là phương tiện mà một quốc gia phải trả nợ cho cộng đồng quốc tế và cho các thể chế đa phương, EU, NATO, Liên hợp quốc, trong đó phần lớn các quốc gia hiện đại, dân chủ và phương Tây đặt niềm hy vọng của họ về một trật tự quốc tế ổn định. Biểu tượng đó có thể cũng thể hiện trong một quan hệ song phương: sức mạnh quân sự thực sự của NATO là ở nước Mỹ và với việc đưa các lực lượng quân đội tới Afghanistan, các nước đồng minh châu Âu là một vốn đầu tư có lợi cho Mỹ, trong trường hợp an ninh của họ có thể bị đe dọa vào ngày mai. Các đồng minh giúp cho việc duy trì những đội quân với quân số đã giảm bớt, đồng thời giới hạn những giả thuyết họ có thể được sử dụng ở đâu.

Tới cuộc chiến tranh hạn chế hoặc không mang tên
Trường hợp Libya năm 2011, cộng đồng quốc tế có thể sử dụng sức mạnh nhờ được Hội đồng bảo an cho phép. Nếu việc tiến hành một cuộc chiến tranh kiểu đó có thể mang một nhãn hiệu có tính khái niệm, thì đó chính là cuộc chiến tranh hạn chế. Chính vì kiểu xung đột đó mà quân đội các nước châu Âu hiện đã được định hình - với kiểu chiến tranh duy nhất trong đó quân đội các nước châu Âu đã cam kết từ năm 1945. Nhưng lý thuyết về chiến tranh đã không điều chỉnh theo thực tế đó. Thể thức của cuộc “chiến tranh hạn chế” không xuất hiện nhiều trong các nghiên cứu chiến lược hoặc trong các diễn văn chính trị.

Kể từ khi chấm dứt Chiến tranh lạnh, xung đột duy nhất đã gây ra những rắc rối nội bộ nghiêm trọng ở châu Âu đã diễn ra ở rìa phía Đông-Nam là Nam Tư cũ. Đức đặc biệt lo ngại về những hậu quả của cuộc khủng hoảng đối với toàn bộ lục địa và quân đội châu Âu đã được triển khai để ngăn chặn điều đó. Chiến tranh bị giới hạn đối với NATO, tổ chức có thể tập hợp tất cả các cuộc can thiệp của họ dưới từ “duy trì hòa bình” hoặc “ban phát hòa bình”. Cụm từ sau đặt ra một vài câu hỏi về việc liệu người ta có thể hay không thể đặt tiêu chuẩn cho chiến tranh. Khi nào việc ban phát hòa bình hòa trộn trong việc chống nổi loạn? Và nếu các trận đánh tăng lên về cường độ, thì ngoài hoạt động “duy trì hòa bình” do Liên hợp quốc tiến hành, điều gì sẽ giúp duy trì từ “hòa bình”, đối lập với từ “chiến tranh”?

 

Iran tăng cường tự sản xuất và hoàn thiện kho tên lửa chiến trường của mình để đối phó với các loại hình chiến mới.

Việc “duy trì hòa bình mở rộng” xác định nhiệm vụ của một số quân đội quốc gia ở chiến trường Afghanistan, trong khi những đơn vị khác tiến hành một chiến dịch chống nổi loạn và không do dự trong việc coi hành động của họ như là một cuộc chiến tranh.
Các chính phủ châu Âu hiện nay tiến hành các cuộc chiến tranh hạn chế tương quan với các biện pháp quân sự của họ. Cuốn sách của Robert Osgood “Chiến tranh hạn chế. Một thách thức đối với Chiến lược của Mỹ”, xuất bản năm 1957 thảo ra một khuôn khổ khái niệm đối với chiến tranh hạn chế.

Chính phủ Mỹ sau vụ 11/9/2001, đã sử dụng sự khoa trương hoàn toàn về chiến tranh để bày tỏ các mục tiêu của họ. George W. Bush nói về dân chủ, tự do, tư tưởng cởi mở. Còn Barack Obama quả thật đã muốn giảm nhẹ sự khoa trương đó, nhưng ông không thể thoát hoàn toàn khỏi những hậu quả của nó. Ngoại trưởng Hillary Clinton tiếp tục giải thích sự can thiệp của Mỹ ở Afghanistan liên quan đến nhân quyền hơn là những mục tiêu đặc thù chống chủ nghĩa khủng bố.

Châu Âu không tỏ ra chắc chắn khi thấy mình ở vào tình thế trái với những đòi hỏi chính trị của cuộc chiến tranh hạn chế. Sự tham gia quân sự của họ chắc chắn bị hạn chế. Trong con mắt của người Mỹ, nguyên tắc kiềm chế được một số quân đội các nước châu Âu sáp nhập tới mức nó có thể phá hoại giá trị quân sự của họ. Nhưng các mục tiêu chính trị làm lay chuyển những khả năng quân sự đó, mặc dù chúng mắc kẹt trong tham vọng “chiến tranh thế giới chống chủ nghĩa khủng bố”, có thể luôn gây cảm tưởng về tầm quan trọng cơ bản, nếu nó dựa vào những mối đe dọa đối với an ninh quốc gia và gắn Al Qaeda, hoặc thậm chí Taliban, với một khả năng về chủ nghĩa khủng bố nội bộ.
Và các cuộc chiến tranh cần thiết hay chọn lọc?

Tất cả điều đó biến chiến tranh ở Afghanistan thành một cuộc “chiến tranh cần thiết”. Nhiều quân đội phương Tây mô tả nhiệm vụ của họ không phải theo nghĩa chống khủng bố mà bằng cách nói về nhân quyền, về sự điều hành tốt ở Afghanistan và an ninh của nhân dân. Những mục tiêu nhân đạo đó, được Thủ tướng Anh Tony Blair nêu ra trong diễn văn Chicago 1999 và trong “trách nhiệm che chở” do Liên hợp quốc nêu ra, phải kéo theo những cuộc chiến tranh cần thiết; trên thực tế, chúng sản xuất ra cái mà người ta có thể gọi là “những cuộc chiến tranh chọn lọc”.

Trung Quốc tự sản xuất máy bay không người lái, công cụ quan trọng chiến tranh hiện đại thời tin học hóa.

Có hai mâu thuẫn nội bộ làm cho dạng “các cuộc chiến tranh chọn lọc” trở nên phức tạp. Về mặt tinh thần, sự khẩn cấp nhân đạo không để cho phạm vi lựa chọn; mệnh lệnh sắc tộc là không thể cưỡng lại được và không phải là đối tượng cho các lợi ích dân tộc hoặc các cá nhân. Đó chính là nghịch lý mà các cường quốc châu Âu phải đối mặt hồi tháng 3/2011 khi các phần tử nổi loạn Libya kêu gọi sự giúp đỡ. Lợi ích đặc biệt khuyên tránh can thiệp – dư luận Arập có thể diễn giải không tốt một sự can thiệp của châu Âu, và các nước châu Âu có thể khó mà cho phép mình là một bộ phận của cuộc xung đột rắc rối và kéo dài. Mặt khác, “trách nhiệm che chở” đòi hỏi một sự can thiệp để ngăn chặn các tội ác chiến tranh, sự chết chóc của những thường dân vô tội và khả năng xảy ra thảm họa nhân đạo: lý do tinh thần đủ để hành động. Từ “chiến tranh chọn lọc” dường như gợi tới một sự nhẹ nhàng nhất định, đánh giá thấp sự nghiêm túc cần có trước một quyết định tham gia chiến tranh. Nhưng đối với các nước châu Âu ở Địa Trung Hải, các sự kiện ở khu vực Bắc Phi có thể có những hệ quả tới an ninh cũng nghiêm túc như là những hệ quả mà người Đức lo sợ đối với Nam Tư của những năm 1990.
Sự cần thiết phải có cách nhìn nhận về các cuộc chiến tranh hạn chế càng cấp bách hơn khi nó có thể giúp chúng ta nghĩ về những bối cảnh, trong đó một cuộc chiến tranh lớn hơn có thể lại được nêu ra trong chương trình nghị sự của các nước phương Tây./.

QT (Gt)

NỔI BẬT TRANG CHỦ