• Đường dây nóng

    0901.22.33.66 - toasoan@toquoc.gov.vn

  • Liên hệ quảng cáo

    091.358.6788

Tiểu thuyết “Biên bản chiến tranh 1-2-3-4.75” công bằng và cận sự thật

19/05/2017 10:23

Biên bản chiến tranh 1-2-3-4.75 của Trần Mai Hạnh là một cuốn sách khá điển hình ở thể loại tiểu thuyết lịch sử, khi dựng lại lịch sử với những chân dung nhân vật có thật mà không làm lịch sử bị bóp méo.

 

Khi biết tin Hội Nhà văn Việt Nam trao giải nhất cho cuốn tiểu thuyết Biên bản chiến tranh 1-2-3-4.75 của một cây bút không chuyên- nhà báo Trần Mai Hạnh, tôi tới tham dự và cười khẩy. Sự nghi ngờ có tính mặc định là thói xấu bấy nay của giới văn bút, e ngại sự chia chác và thiên vị chăng? Rồi từ người bạn đồng tuế tôi nhận được nó. Cuốn sách được đọc, hút tôi về phía cực tích cực, đọc say mê không buông, đi lại tám chín lần. Nó xứng đáng là cuốn sách hay nhất bấy nay, khi bàn về chiến tranh, ở giác độ văn chương không thuần túy. Nó hay tới mức độ, một chứng nhân như tôi, tham gia trận mạc từ khi khởi phá tháng Ba Tây Nguyên, đánh truy kích quân đội Việt Nam Cộng hòa mút mùa tận Sài Gòn phải gối đầu giường đọc nó, truy kích lại sự thật từng chữ một không sót. Và đúng là, nó xứng đáng nhận giải thưởng cao nhất của Hội Nhà văn Việt Nam.



Tác giả Trần Mai Hạnh trong buổi ra mắt cuốn tiểu thuyết tư liệu lịch sử "Biên bản chiến tranh 1-2-3-4.75"



Trong văn học đương đại, ở thể loại tiểu thuyết hôm nay, khi nhà văn hạ bút viết theo nhịp sống hiện đại, thi pháp tiểu thuyết đã mở rộng nhiều biên độ. Với tiểu thuyết lịch sử, để nhận diện một vấn đề nào đó của lịch sử, thực không giản đơn; vì nó dễ rơi vào khô cứng và một chiều, nhất là khi nhà văn ở về một phía nào đó quan sát và chiêm nghiệm. Vì thế, các nhà văn đương đại đã phải vật lộn với sự thật, hòa trộn, dựng lên một dị bản hiện thực, cho công chúng tiêu hóa dễ dàng một - sự - thật đã đi qua.

Biên bản chiến tranh 1-2-3-4.75 của Trần Mai Hạnh đã vượt qua được điều khó khăn ấy. Trở thành một hiện tượng hiếm hoi của tiểu thuyết hiện đại hôm nay.

Gần 600 trang sách quả là một thử thách với bạn đọc bây giờ, thiêu đốt 24 giờ để đọc nó. Song, dẫu có độ dày như thế, Biên bản chiến tranh 1-2-3-4.75 vẫn là cuốn sách hết sức cuốn hút, hút hồn để đọc ngọt ngay từ những trang đầu.

Dùng văn học như chất men chiêu dụ, kết hợp cả thể kí sự, báo chí, tác giả Trần Mai Hạnh đã sử dụng ngòi bút rất nhuần nhuyễn, biến những sự kiện khô cứng nhất của lịch sử, thành một cuốn sách tiểu thuyết đầy tâm huyết, tạo nên sự chuyển vận của cả hệ thống nhân vật dẫn chuyện lịch sử. Lịch sử chiến tranh vốn khô xác, đảo nhào, bỗng dưng lập trật tự theo ngọn bút nhà văn, trở nên hấp dẫn lạ thường, dẫn bạn đọc đi từ đường ven cuộc chiến, từ các chi tiết ở vùng chiến thuật, tới trung tâm của vùng chiến lược, nóc Tổng hành dinh Tư lệnh chiến tranh Việt Nam Cộng hòa và cả bộ máy nóc nhà chiến cuộc là Sứ quán Mỹ, giải mã nhiều vấn đề của chiến tranh rất giàu kịch tính.

Gắn bó với cuộc chiến mà tác giả mô phỏng, tôi, một nhân chứng tham chiến, bị nó cuốn theo, đọc đi đọc lại, nhiều lần. Đọc đi đọc lại để hồi tưởng và suy nghĩ. Trần Mai Hạnh đã sử dụng rất nhiều tư liệu có thật, những biên bản tài liệu của chế độ Việt Nam Cộng hòa mà kho lưu trữ của ta thu giữ được, còn nóng hổi mùi thuốc súng ngày 30-4-1975, cả những cuốn hồi kí mà phía người Mỹ tổ chức cho nhiều tướng lĩnh Việt Nam Cộng hòa viết, khi họ di tản sang Mỹ. Những câu chuyện đời tư của nhiều tướng lĩnh Việt Nam Cộng hòa và cả những lời khai của chính họ, bộc lộ về phía họ, khiến cho cuộc chiến trở nên sinh động lạ thường nhờ vào sự mô phỏng, tính tự thuật, tự thú cao. 







Bản tiếng Anh của cuốn sách "A war account 1-2-3-4.75"



Chính vì thế, lịch sử những tháng cuối cùng của một chế độ cũ và nát, thối tha từ trong ruột, đã được dựng lại khá công bằng và cận sự thật. Cho nên có thể nói, Biên bản chiến tranh 1-2-3-4.75 của Trần Mai Hạnh là một cuốn sách khá điển hình ở thể loại tiểu thuyết lịch sử, khi dựng lại lịch sử với những chân dung nhân vật có thật mà không làm lịch sử bị bóp méo.

Không sa vào những lối viết cứng nhắc cũ xưa, cứ phải ta thắng địch thua, cứ phải địch xấu ta tốt, Trần Mai Hạnh khách quan chừng mực lắm khi đã hết sức công khai và minh bạch, dựng lại rõ ra bản chất thực sự của tướng lĩnh Việt Nam Cộng hòa mà nhân vật trung tâm là Tổng chỉ huy Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu, người chống Cộng cực đoan nhất của chế độ cũ, để qua đó, cũng phơi bày rõ bản chất của một thể chế tay sai, phụ thuộc hoàn toàn vào nước Mỹ. Ở một tầng nấc cao nhất bao trùm cuộc chiến, mặt chiến lược soi xét, Trần Mai Hạnh đã làm một việc hết sức tình cờ mà hữu ích: quan sát toàn bộ lịch sử từ trên cao, ngoài tuyến. Tức là người viết bay trên lịch sử, theo thói thường, kẻ viết dễ mắc lỗi, sa vào sở đoản từ mặt đất nhìn ghé sang.

Nhưng cũng chân thực như thế, tác giả cũng dựng lại cả những tướng lĩnh mà cuộc đời riêng của họ, hay cái chết cuối cùng của họ, biểu hiện rõ với tư cách người lính, họ là những con người có danh dự và trách nhiệm, khả năng tác chiến thiện chiến. Trường hợp điển hình là thiếu tướng tư lệnh trưởng quân đoàn 4 Việt Nam Cộng hòa Nguyễn Khoa Nam. Tư lệnh trưởng quân đoàn 4 đã bàn giao sinh mạng 1,6 vạn binh sĩ và gia đình họ cho hai cán bộ mặt trận giải phóng, bàn giao nguyên vẹn các cây cầu tiến vào thủ phủ Cần Thơ, với lời lẽ hết sức nhân văn: “Không được. Cầu để nguyên không được đánh sập”. Mệnh lệnh phá cầu ấy trái với đạo làm tướng. Hắn, thiếu tướng Nam trước khi thất thủ, đã đi úy lạo Quân y viện Phan Thanh Giản, thăm lại 200 thương chiến binh, trước khi nã một phát đạn Braoninh vào đầu, kết thúc một bi kịch “chỉ sống với cần vụ, không gia đình riêng”, chả người thân ở bên. Trái ngược với khuôn mặt như thế, từ người hùng Ngô Quang Trưởng tới Nguyễn Cao Kỳ hay Nguyễn Văn Thiệu, rõ ra nguyên vẹn những bộ mặt tay sai cho người Mỹ, bỏ binh sĩ trốn chạy, thoát khỏi sự trừng phạt của nhân dân. Những sự tháo chạy nhục nhã ấy, không bôi thêm lịch sử vốn hoen bẩn, mà chỉ làm sáng tỏ bộ mặt lịch sử ở bình diện biên bản, nhìn từ sự thật, dựng nên chân dung chiến tranh,qua những sự thật đã xảy ra.

Biên bản chiến tranh 1-2-3-4.75 thành công hơn tất cả các cuốn tổng kết chiến cuộc xây dựng tiểu thuyết chiến tranh có ba điểm chính nhất được xác lập tài tình và công phu:

1. Cuốn trói được, vẽ ra chân dung nhân vật. Vẽ ra chân dung khá chi tiết, khái quát đầy đủ quá trình sống và chiến đấu của những tướng lĩnh điển hình của quân đội Việt Nam Cộng hòa với bi kịch thời đại mà họ tạo ra, can dự và thất bại. Bút pháp linh hoạt: Không một chiều cũ mòn; Khả năng xây dựng nhân vật tốt về tâm lí, về hành động. 

2. Hệ thống được cả diễn tiến của cuộc chiến trong 4 tháng cuối cùng của cuộc chiến tranh một cách vừa chi tiết vừa khái quát để người đọc hình dung được mọi diễn tiến, cảnh tình và cảnh huống chiến cuộc một cách lớp lang thứ tự, từ bắt đầu tới khi kết thúc.

Bút pháp hiện đại, kết hợp ngôn ngữ, cả thể loại báo chí, hồi kí tạo nên ngôn ngữ kể có mạch, hấp dẫn, sinh động, tin cậy. Sự dựng tiểu thuyết sống động như thật. Gần sự thật.

3. Khách quan trong sử dụng tài liệu khi viện dẫn rất đầy đủ, tập hợp rất nhiều tài liệu chi tiết, kể cả tài liệu mật lưu trữ công bố sau cuộc chiến của Bộ tổng hành dinh lẫn giải mã công trình mật từ nguồn hồi kí tướng lĩnh Việt Nam Cộng hòa và cả bộ máy công cụ CIA.

So sánh trong văn học đương đại hai phía bên thua và bên thắng có hai cuốn viết rất sát sự kiện tháng Ba 1975.

Thập kỉ 80-90, văn học hải ngoại ồn ào cuốn Tháng Ba gãy súng của Cao Xuân Huy. Đây là cuốn hồi kí của một cựu trung úy thủy quân lục chiến, thuộc quân lực Việt Nam Cộng hòa. Cao Xuân Huy đã dụng công, viết với năng lực dòng giống (con nhà văn Cao Nhị) dựng lại tất cả thời gian cuộc chiến ông tham dự và can dự, theo chiều kích từ dưới đất nhìn lên, nhằm đánh giá cuộc chiến. Tư liệu là chính đời ông nên được gọi là hồi kí. Những trang viết hết sức sống động kể về cuộc thoái lui u buồn của kẻ chiến bại ở tâm thế: “Thật sự khi cầm bút viết tôi chỉ vì một điều ấm ức với lời một ông tướng cũ của mình khi ổng tuyên bố “để mất nước (là) tội chung mọi người, lớn tội lớn, bé tội bé”. Tôi không đồng ý điều đó, chúng tôi đánh nhau đến viên đạn cuối cùng rồi bị bắt, như vậy không phải là chúng tôi có tội. Tôi tức quá về điều đó, tôi viết ra...”

Cao Xuân Huy viết xong, từng chương một, được nhà văn Nguyễn Mộng Giác in ngay. In trên báo Văn học do Nguyễn Mộng Giác chủ biên khi đó. Cung cấp một lượng thông tin ở một giác độ, Tháng Ba gãy súng là nguồn cho 58 thư viện thế giới, tái bản đến 10 lần.

Như thế, cuộc chiến được tái hiện ở lí do bào chữa sự thất bại mà Huy là nhân chứng tham gia vào cuộc thoái lui ngắn ngủi và nhiều bị kịch ấy. Lập lý của ông Huy là, ông không buông súng mà gãy súng, Cao Xuân Huy nói: “Súng của chúng tôi có phải đã bị bẻ gãy không, khi mà vẫn có thể tiếp đạn cho chúng tôi để chúng tôi chiến đấu”. Rõ ràng, viên trung úy đã đề cao vũ khí, thứ mà người Mỹ muốn như là công cụ chính để thay máu cuộc chiến, tiếp sinh lực sinh khí cho binh sĩ Việt Nam Cộng hòa. Huy không hề biết rằng, chiến tranh không giản đơn như thế, khi rơi bị động vào cái thế thua, buông súng còn mới nguyên, chạy dài, tháo lui khốn nạn suốt dải miền Trung tới tận Sài Gòn thất thủ.

Tôi, một binh sĩ khác chiến tuyến, đọc Tháng Ba gãy súng năm 1996, 1998. Cao Xuân Huy sang Đức tìm tới nhà. Chúng tôi cự nhau dưới lá cờ đỏ sao vàng năm cánh treo giữa nhà tôi, nói về cái sự thảm bại của binh sĩ Việt Nam Cộng hòa và tôi nói rõ: “Anh đã viết hồi kí, chiếu rọi lịch sử của một nhúm người, nhóm có anh cựu thủy quân lục chiến khoác áo chiến bại. Rõ là nguyên do chiến tranh bại trận không trúng và không đúng. Ở ngã tư Bẩy Hiền, tôi vượt qua cả một dãy dài xe bọc thép M113 của các anh thơm sực mùi Mỹ. Tôi thấy trên xe bản đồ Sài Gòn còn bọc nilon mới tinh-xi-on. Các anh rơi vào cái thế phải chạy và phải thua. Thua là tất yếu của lịch sử trớ trêu bắt đầu từ tháng Ba, từ sự rút chạy hỗn loạn tùy nghi không ai đủ sức chỉ huy của cả quân đoàn 3 các anh, nên nhúm các anh gãy súng. AR15 đã gãy, trước các họng súng AK 47.

Thật ra, cuốn hồi kí ấy được Cao Xuân Huy thể hiện khá sinh động, nó khái quát được toàn bộ diễn tiến cuộc tháo lui của một người lính dũng cảm và đánh nhau có mục đích. Nhưng bản thân cuốn hồi kí ấy là thái độ một chiều, của một kẻ chiến bại, không khái lược sự thất bại tất yếu, do đâu, vì sao mà sinh phát tội lỗi của đám tàn binh ấy, từ các sĩ quan chóp bu Việt Nam Cộng hòa; Nó không mang tải được một ý nghĩa giải oan cho chiến cuộc mà nó, cuốn hồi kí của Huy chỉ là sự giải oan cho chính ông ta, một người lính thất trận.

Biên bản chiến tranh 1-2-3-4.75 của nhà báo, nhà văn, Trần Mai Hạnh có cách nhìn ở tâm thế khác. Bay qua một tầng nấc trên cao quan sát cả dải lịch sử đã diễn ra và tái hiện, tiểu thuyết của Trần Mai Hạnh, bằng tư liệu cụ thể, những tài liệu chính nhất của các cơ quan đầu não tối mật, những biên bản nóng của nhiều nhân chứng, sĩ quan cao cấp Việt Nam Cộng hòa, chính khách chế độ, đã chỉ ra sai lầm lớn nhất, sự thất bại có tính chiến lược và chiến thuật của tất cả nền tảng tạo nên sức mạnh quân sự của Việt Nam Cộng hòa. Chính vì lẽ đó, mà những trang viết của Trần Mai Hạnh hiện ra rõ lắm một cuộc chiến với tầm vóc và kích cỡ khác, đẫm máu và khốc liệt. Nó khái lược toàn bộ cái thế thua được, hết thất bại này tới thất bại khác của cả một guồng máy chiến tranh bị động, chế độ mục ruỗng tận bàn đế.

Vô hình chung, tiểu thuyết Biên bản chiến tranh 1-2-3-4.75 của một người viết không chuyên nghiệp đã chứng minh được tính tất yếu về quy luật của chiến tranh ở phần thế thắng thua, thuộc về lịch sử khó chối cãi. Nó không hề nhắc tới những tướng lĩnh và binh sĩ của phe ta mà là bản anh hùng ca viết rõ ra bằng chữ. Đầy đủ một nghệ thuật cuộc chiến mở màn từ tháng Ba lịch sử ở Tây Nguyên. 

Biên bản chiến tranh 1-2-3-4.75 của nhà văn Trần Mai Hạnh tháng Ba năm 2017 đã được hoàn chỉnh dịch ra tiếng Anh. Thêm một lần cung cấp cho chính sử triết thuyết chiến cuộc công bố ra toàn thế giới, gọi tên đúng của chiến cuộc tháng Ba năm 1975, mở rộng sự thật cuộc chiến gọi ra, dóng lên thuyết lý giản dị nhất cho toàn bộ công chúng dễ nhận biết trong sử văn học Việt. Nó, đúng là một sự kiện của văn học nước nhà, xứng đáng tầm vóc, kích cỡ của một con người đặc biệt yêu đất nước, hết sức kính trọng sự hy sinh mất mát của biết bao chiến sĩ quân giải phóng, mà dóng bút viết ra. Nhọc nhằn công phu dựng nên biên niên sử đồ sộ trong một góc nhìn xuyên qua chiến tranh, trong tâm thế vừa chứng nhân, vừa khách quan đánh giá chiến tranh, với tư cách một nhà văn vừa đủ độ chín, nhãn quan chín, thẩm thấu suốt chiều kích lớn lao của cuộc chiến từ tháng giêng tới tháng tư năm 1975, làm rõ ra lịch sử bi tráng của toàn dân tộc trên sự thất bại không thể nào thay đổi được của một chế độ đã mục ruỗng để mà sụp đổ. Sụp đổ một cách hết sức có lý và tự nhiên.

Nguyễn Văn Thọ

(Nguồn: Văn nghệ Quân đội)

NỔI BẬT TRANG CHỦ