Do suy nghĩ âm nhạc cung đình Việt Nam là “thứ âm nhạc phong kiến”, không ít người thờ ơ, thậm chí quay lưng với bộ môn này. “Chỉ có đầu óc con người còn nặng tư tưởng đó chứ không có âm nhạc nào là phong kiến cả.
Do suy nghĩ âm nhạc cung đình Việt Nam là “thứ âm nhạc phong kiến”, không ít người thờ ơ, thậm chí quay lưng với bộ môn này. “Chỉ có đầu óc con người còn nặng tư tưởng đó chứ không có âm nhạc nào là phong kiến cả.
Ngày xưa, âm nhạc cung đình chỉ phụng sự riêng cho triều đình, nhưng ngày nay, thật may mắn là nghệ thuật đặc sắc ấy đã được đem ra biểu diễn để mọi người cùng thưởng thức” - giáo sư - tiến sĩ Trần Văn Khê khẳng định.
Một nền âm nhạc có bản sắc riêng
Năm 2003, âm nhạc cung đình Việt Nam đã được UNESCO công nhận là kiệt tác di sản văn hóa phi vật thể và truyền khẩu của nhân loại bởi sự độc đáo, tinh tế và những giá trị to lớn về phương diện lịch sử lẫn nghệ thuật. Chương trình sinh hoạt nghệ thuật định kỳ lần thứ 15 tại tư gia giáo sư - tiến sĩ Trần Văn Khê vào đêm 23-3 đã giúp khán giả hiểu thêm về bộ môn âm nhạc truyền thống này.
Đặc biệt, chương trình này có sự tham gia của bảy nhạc công tài năng và giàu tâm huyết của Nhà hát Nghệ thuật truyền thống cung đình Huế và họ đã cho khán giả cơ hội thấy tận mắt, nghe tận tai những bài bản tiêu biểu của âm nhạc cung đình như Mã Vũ - Du Xuân, Mã Vũ - Mang - Bông, Ngũ Đối Thượng, Long Ngâm, Tiểu Khúc, biểu diễn kèn cung Ai và mười bản Ngự (gồm Phẩm Tuyết, Nguyên Tiêu, Tây Mai, Xuân Phong, Kim Tiền…).
![]() |
| Giáo sư Trần Văn Khê và các nhạc công |
Hiếm có bộ môn âm nhạc nào phong phú cả về thể loại, thang âm điệu thức cho đến các loại nhạc cụ như âm nhạc cung đình Việt
Cụ thể, một dàn nhã nhạc gồm có các loại đàn dây tơ như đàn nguyệt, đàn nhị, đàn tam, đàn tỳ bà kết hợp với sáo trúc, trống bảng một mặt, tam âm la và sinh tiền. Hầu hết các loại nhạc cụ trong dàn nhã nhạc đều chỉ có một chiếc nhưng vẫn tạo ra được nhiều màu âm rất phong phú như tiếng kim, tiếng thổ, tiếng trầm, tiếng bổng, tiếng tơ, tiếng trúc, tiếng đồng, tiếng đá, tiếng da và tiếng mộc.
Trong kho tàng bài bản vô cùng phong phú của âm nhạc cung đình Việt Nam còn được lưu giữ đến ngày nay, một số bài được cho là có nguồn gốc xuất xứ từ Trung Quốc, trong đó mười bản Ngự (mười bản liên hoàn) bị nhiều người gọi là mười bản Tàu. Về vấn đề này, giáo sư - tiến sĩ Trần Văn Khê khẳng định: “Trong các tài liệu nghiên cứu âm nhạc của Trung Quốc không có ghi nhận bài bản nào giống hoặc tương tự với mười bản Ngự của Việt Nam, ngay cả tên gọi của các bài bản cũng không có sự tương đồng nào”.
“Di sản là thứ không được can thiệp vào”
Việc bảo tồn và phát huy âm nhạc cung đình Việt
Dàn nhạc cung đình Việt
Ngày xưa, âm nhạc cung đình Việt Nam chỉ được dùng trong các dịp đại lễ như lễ tế trời đất ở đàn Nam Giao (giao nhạc), năm lễ tế thần (ngũ tự nhạc), lễ Vạn thọ, lễ tiếp sứ thần (đại triều nhạc) và các buổi yến tiệc (đại yến nhạc). Ngoài ra còn có các thể loại khác dùng trong các miếu (miếu nhạc), cung phủ (cung trung chi nhạc)…
Ngày nay, âm nhạc cung đình Việt
Theo DNSGCT
